kinh tế thế giới

tổng hợp nền kinh tế các quốc gia trên toàn cầu có quan hệ với nhau dưới nhiều hình thức, với mức độ chặt chẽ khác nhau trong sản xuất và trao đổi. Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất là nhân tố thúc đẩy sự mở rộng không ngừng phân công lao động xã hội và quan hệ hợp tác. Sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển trong phạm vi mỗi quốc gia thúc đẩy sự phát triển quan hệ hợp tác, liên kết kinh tế trên bình diện quốc tế dưới nhiều hình thức, nhiều quy mô. Chế độ kinh tế tự cấp, tự túc, khép kín trong từng quốc gia đã trở thành lạc hậu và trong điều kiện thực tế hiện nay, trở thành nhân tố kìm hãm sự phát huy các lợi thế đặc thù của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, cản trở sự phát triển lực lượng sản xuất, nhất là về trình độ khoa học - kĩ thuật và công nghệ. Gắn liền với quá trình phát triển quan hệ hợp tác và phân công lao động là quá trình tăng cường quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa nền kinh tế mỗi quốc gia. Từ thế kỉ 16, cuộc đại cách mạng trong thương nghiệp đã thúc đẩy phát triển nền công nghiệp lớn và sự ra đời của chủ nghĩa tư bản, đồng thời sự phát triển mạnh mẽ của đại công nghiệp đã từng bước hình thành nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thế giới. Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật và công nghệ mới đã làm cho sự xã hội hoá sản xuất trên phạm vi quốc tế ngày càng sâu sắc, quan hệ kinh tế giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng chặt chẽ hơn.

KTTG không phải là một thực thể thuần nhất. Do nhiều nhân tố chủ quan và khách quan khác nhau giữa các quốc gia, khu vực, nhất là do trình độ phát triển không đều của lực lượng sản xuất, nên trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia cũng khác nhau và sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội hết sức lớn. Mức thu nhập quốc dân theo đầu người trung bình toàn thế giới là 4.200 đôla, khối nước có mức thu nhập bình quân cao nhất là 22.160 đôla; khối nước có mức trung bình là 2.490 đôla, khối nước có mức thu nhập thấp là 390 đôla. Do sự phát triển không đều giữa các quốc gia khu vực, cho nên đã hình thành các khối liên minh trong từng khu vực để tiến hành sự hiệp tác, liên kết với nhau về từng lĩnh vực hay nhiều lĩnh vực kinh tế nhằm phát triển quan hệ hiệp tác, phân công chuyên môn hoá sản xuất, hạn chế sự cạnh tranh trong khu vực và tạo thế cạnh tranh với các khu vực khác (như EEC, EFTA, NAFTA ở Bắc Mĩ, ASEAN, nhóm nước công nghiệp phát triển G7). Mặt khác, với việc hình thành Tổ chức Thương mại Thế giới, xu hướng tự do hoá thương mại đang được đẩy mạnh. Các nước chậm phát triển đứng trước nguy cơ ngày càng "tụt hậu" trước sự thách thức của cạnh tranh trong kinh tế. Trong xu thế chung của thế giới hiện nay, sự phát triển kinh tế được xem như mối quan tâm hàng đầu, khu vực Châu Á - Thái Bình Dương thể hiện rõ vai trò năng động với nhịp độ phát triển cao nhằm chống lại nguy cơ tụt hậu và bị thua thiệt trong quan hệ KTTG. Tốc độ tăng trưởng của KTTG trung bình 10 năm (1989 - 98), tính chung thế giới: 3,4%; tính riêng các khu vực: các nước công nghiệp phát triển: 2,5%; các nước đang phát triển: 5,8%; Châu Á: 7,9%; các nước có nền kinh tế mới công nghiệp hoá (NICs): 6,7%. Mức tăng GDP/ đầu người ở các khu vực với các tỉ lệ tương ứng là: 1,8%; 3,6%; 5,9%; 5,6%. Thương mại thế giới trung bình 10 năm (1989 - 98): mức tăng khối lượng toàn thế giới: 6,5%; trong đó xuất khẩu tăng 6,7% (các nước phát triển) và 8,2% (các nước đang phát triển). Nợ nước ngoài (tỉ đôla): các nước đang phát triển 1.790,8 tỉ đôla (1997), trong đó Châu Á là 585,0 tỉ; tỉ lệ nợ/ GDP: 32% ("Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi" - Báo cáo tình hình phát triển thế giới, 1997; "Ngân hàng Thế giới", Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội, 1998; "Kinh tế thế giới", Nhà xuất bản Khoa học - Xã hội, Hà Nội (1998).

Tình hình KTTG trong những năm gần đây (1997 - 99) diễn biến phức tạp: cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở Đông Á làm rung chuyển toàn bộ cấu trúc tài chính thế giới, lan toả ra tất cả các nước; nó chứng tỏ các quy tắc kinh tế và thương mại quốc tế hiện hành không còn hoàn toàn thích hợp; những yếu tố tạo ra sự "thần kì" của mô hình khu vực Đông Á tăng trưởng rất mạnh, nhưng mang những nhược điểm tiềm ẩn có thể bùng nổ. Đó là không chú ý đầy đủ đến việc phát triển một cấu trúc kinh tế hiện đại, đến vai trò then chốt của hệ thống tài chính - tiền tệ, đến sự biến đổi nhanh chóng của thị trường thế giới; sự thay đổi so sánh lực lượng trên thế giới giữa các cường quốc và các khu vực, sự thay đổi chiến lược kinh tế quốc tế của các cường quốc, các khối kinh tế lớn và các tổ chức quốc tế có thế lực lớn (WB, IMF, WTO…), làm thay đổi động thái của dòng vốn quốc tế và của thị trường thế giới... gây hậu quả nghiêm trọng đối với KTTG cũng như đối với kinh tế khu vực và kinh tế từng nước. Tốc độ tăng trưởng của KTTG tuy bị giảm sút, song vẫn còn ở mức khoảng 2% (1998). Vào cuối 1998, KTTG đã có dấu hiệu phục hồi, nhưng còn nhiều khó khăn, thử thách. Thuyết KTTG nghiên cứu quy luật của hệ thống kinh tế thế giới, chi phối sức sản xuất và quan hệ sản xuất quốc tế hình thành trên cơ sở sự phân công KTTG, thị trường thế giới và quốc tế hoá đời sống kinh tế. KTTG là một phạm trù lịch sử, có thể chia làm 4 giai đoạn: giai đoạn đầu manh nha ở thế kỉ 15, 16 sau khi có sự phát hiện lớn về địa lí thế giới cho đến lúc hoàn thành cách mạng công nghiệp vào giữa thế kỉ 18; giai đoạn hai từ giữa thế kỉ 18 đến khi kết thúc Chiến tranh thế giới II; giai đoạn ba là từ sau Chiến tranh thế giới II, hình thành hệ thống KTTG vừa có thống nhất vừa có đối lập giữa hệ thống tư bản chủ nghĩa và hệ thống xã hội chủ nghĩa; giai đoạn từ sau khi hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa bao gồm Liên Xô và các nước Đông Âu tan rã, sự hội nhập, nhất thể hoá KTTG và kinh tế khu vực tiếp tục phát triển lên một bước mới.



kinh tế thế giới

 world economy

diễn đàn kinh tế thế giới
 World Economic Forum
hội nghị kinh tế thế giới
 world economic conference
hội nghị kinh tế thế giới (năm 1933)
 World Economic Conference
khủng hoảng kinh tế thế giới
 world economic crisis